Ngày cuối cùng – cơ chuyển thế

Ngày đăng: 20-12-2012 | Lượt xem: 2695

 

Ngày cuối cùng – Cơ chuyển thế

(Dưới đây cơ bút của Vị Đại Tiên Hồng Quang

Giáng cơ  ban cho  vào năm 1970)



Thương Nhân loại đã kề miệng hố,
Động lòng, đây tiết lộ đôi hàng;
Để cho Bá tánh biết đàng,
Tránh cơn nguy biến: muôn ngàn khổ đau.


Cơ Tận diệt có đâu tránh khỏi,
Phật-Thánh-Tiên các cõi xuống Trần;
Lịnh truyền bố trí xa gần,
Lập phương cứu thế, khắp miền Đông Tây.

Cuộc Đại Tạo, Âm Dương biến chuyển,
Do cơ đồ phát triển canh tân;
Cõi trên, Cõi dưới đổi dần,
Vô hình định đoạt, hữu hình hiện y.

Muốn đổi mới cái gì có sẵn,
Phải san bằng cho sạch cũ đi;
Là cho đúng lúc kịp thì,
Đó là Định-luật chuyển-di tuần-huờn.

Cuối Nguơn-Hạ, máy Huyền phát động,
Khắp Địa cầu đâu đặng còn nguyên;
Bao nhiêu những chuyện kinh Thiên,
Tang-điền Biến-hải, đảo điên muôn loài.

Lúc chúng sanh đang còn ngơ ngác,
Tin chắc rằng: đời sống văn minh;
Của nền khoa học hiện tiền,
Là đà chiến thắng Thiên nhiên của người.

Đâu có biết cơ Trời lại khác,
Trao cho người khí giới diệt vong;
Để cho tự giết cho đồng,
Để cho Thần thánh nhọc công ngày cùng.

Nguyên tử lực, tân kỳ khoa học,
Một phát minh cao cả của người;
Là con rắn độc hai đầu,
Nắm đuôi cũng khổ, nắm đầu cũng nguy.

Khoa học biết: ngoài da, nhánh lá,
Đạo học thông: nguồn-gốc vạn loài;
Biết da, đốt gốc: phàm nhơn,
Biết da, thông gốc: Phi-nhơn siêu phàm.

Thời Âm trược, cực hung cực ác,
Trận thứ ba hồn xác khó tồn;
Chia ra hai mối tranh hùng,
Văn minh vật chất đến ngày cáo chung.

Nền trật tự Hóa công đã sắp,
Mà con người muốn lấn sang tranh;
Vệ tinh hỏa tiễn phóng nhanh,
Ra ngoài biên giới hành tinh của mình.

Làm rối loạn quân bình vũ trụ,
Hãnh diện rằng: chinh phục không gian;
Ngờ đâu phản ứng dây chuyền,
Rồi đây Hạ giới chịu nhiều họa lây.

Lẽ tiến hóa, ai đâu chẳng muốn,
Nhưng phải cùng Định luật Thiên nhiên;
Thông minh trí thức làm liều,
Là cơ phản tiến, tiêu điều trần gian.

Cơ khí hóa, muốn bằng Tạo hóa,
Trớ trêu thay: châu chấu chống xe;
Sức người mà lại muốn khoe,
Sánh cùng Thiên Địa, Mẹ Cha muôn loài.

Muốn như vậy phải lo tu tập,
Đạt đủ Huyền, đủ lục Thần thông;
Được cùng Trời Đất hòa đồng,
Góp phần tân tạo lập công hội này.

Rồi sẽ thấy huyền năng Tạo hóa,
Triệu ức lần hơn cả sức người;
Tạo Trời lập Đất muôn loài,
Sanh ra Vũ trụ chẳng cần máy chi.

Đảo lộn hết, không gì ngăn nổi,
Tạo lại liền, chẳng nhọc công lao;
Toàn chân, Thiện mỹ, ly hào,
Phật Trời Tiên Thánh xem vào ngẩn ngơ.

Thượng-Trung-Hạ bắt đầu thay đổi,
Từ Đất trời, tinh tú, loài người;
Cỏ cây, cầm thú, núi sông,
Nắng mưa, thời tiết, đâu còn như xưa.

Quyền Tạo hóa, Chơn âm nắm giữ,
Đến kỳ ba lập lại Nguơn tân;
Đà Hoa thiên mạng giáng Trần,
Miền Nam nước Việt: trung ương Địa cầu.

Tây phương đến, Thánh Tiên cung kính,
Đợi lịnh truyền, sứ mệnh hành y;
Tiên Thiên rồi đến Hậu Thiên,
Hiền tài sỹ tử khắp miền lập công.

Huyền lực hóa vô biên khó tả,
Xưa Nữ oa luyện đá vá trời;
Đà Hoa vá đất hiện thời,
Chỉnh luôn tam cõi mà đời chưa hay.

Bầu Thái cực, hóa sanh vạn hữu,
Cũng là nguồn dưỡng dục muôn loài;
Âm Dương tiêu trưởng vận hành,
Ngũ-hành Tứ-tượng Hà-đồ Lạc thơ.

Đất Nam Việt, trung ương Mồ Kỷ,
Nơi tập trung xuất phát Huyền năng;
Kỳ ba nắm hết chuẩn thằng,
Bảy hai, ba sáu, tùy tùng tại đây.

Chốn Linh địa, trổ sanh Nhân kiệt,
Để sau này phát triển hậu lai;
Thông minh trí thức thời nay,
Nhiễm sâu tư tưởng ngoại lai khó dùng.

Người Đạo đức chân tài minh triết,
Đủ Nghĩa Nhân, hạnh nết vị tha;
Tước quyền, danh lợi chẳng màng,
Quên mình để giúp vạn dân muôn loài.

Đời Mạt Pháp sanh nhiều quỷ quái,
Tuy hình người, trong lại yêu ma;
Còn nguyên thú tính ngụy tà,
Đại gian, đại ác, điêu ngoa khôn lường.

Một dân tộc kiêu hùng oanh liệt,
Mà lẽ nào chẳng biết phục sinh;
Khuyên người ẩn nhẫn qua truông,
Hết cơn đen tối, đến ngày quang vinh.

Muốn dọn đất, phải làm sạch cỏ,
Hễ phá rừng, sâu bọ chết tiêu;
Đến mùa ruộng rẫy xanh tươi,
Thâu nhiều huê lợi, người người hưởng chung.

Hãy trở lại gốc nguồn Dân tộc,
Lo phá điền, dọn đất chờ mùa;
Đợi Thấy Thập-tự giáng trần,
Đem nhiều giống quý lưu truyền đời sau.

Không dùng đến binh hùng tướng mạnh,
Cũng chẳng cần cơ khí tối tân;
Một mình vận chuyển Âm Dương,
Thắng binh, thắng tướng, thắng khoa học đời.

Mượn hình thức đá-cây-đất-nước,
Vận huyền vi, trừ khử trược âm;
Một bầu Vũ trụ bao hàm,
Nằm nhà điều khiển, khỏi cần đi đâu.

Lo lập lại cơ đồ nước Việt,
Sửa bàn cờ bốn biển năm châu;
Trong tay nắm đủ Pháp mầu,
Địa hình, địa vật khắp miền đổi thay.

Đuôi Tây tạng, đầu về Nam Việt,

Miệng Cửu long, ngậm biển Đại Thanh;
Huyệt linh kết tụ Khí Huyền,
Chờ giờ sấm nổ, chuyển mình thị oai.

Cuộc địa chấn, xảy ra rùng rợn;

Từ Nam quan tới mũi Cà mau;
Núi sông đất sụp ầm ầm,
Nước trào, lửa dậy, đá bay mịt mù.

Vùng Bảy núi, chẳng còn nguyên vẹn,
Trừ vài nơi, các chỗ đều thay;
Cù lao, rừng biển, thị thành,
Chỗ trồi, chỗ xụp, âm thanh rợn người.

Nhiều ranh giới quốc gia thay đổi,
Các liệt cường chịu khổ nhiều hơn;
Đó đền tội ác bao thời,
Đòn cân công lý Đất Trời nào sai.

Nước Việt mới, Kinh đô dời chỗ,
Về Hậu giang, bờ biển phía tây;
Tàu bè lui tới đông đầy,
Đền đài cung điện, kỳ quan tuyệt vời.

Nước thơm ngọt, trị lành các bịnh,
Tháp chín từng, mầu nhiệm vô cùng;
Lên trời, xuống biển có đường,
Cây đờn, chim hát, gió nồng mùi hoa.

Khắp các nước đổ xô nhau đến,
Để dò xem huyền diệu tân kỳ;
Thấy rằng thế giới không bì,
Tinh thần vật chất, cực kỳ siêu linh.

Đến chừng đó, mới xin thọ giáo,
Tôn làm thầy, học Đạo học Đời;
Sau về truyền bá khắp nơi,
Văn minh tuyệt đỉnh của thời Thượng Nguyên.

Sẵn vàng bạc ngọc ngà châu báu,
Thêm các hầm có mỏ lộ thiên;
Giúp cho thập bát còn tồn,
Đủ phương kiến Quốc sống Nguơn thanh bình.

Có điềm trước, báo ngày tận thế,
Trên bầu trời, đổi sắc xám đen;
Mây giăng lơ-lửng ưu-sầu,
Mùi hôi nồng nực xông lên ngất trời.

Làm cầm thú chạy hoang sợ hãi,
Dưới biển-sông, cá nổi như bèo;
Tự nhiên cây ngả khắp cùng,
Không trung lửa dậy, nước thì rút khô.

Ba tiếng sấm, rung rinh Tam cõi,
Kế Ngũ lôi chuyển nổ kinh hồn;
Tuần huờn ngưng hẳn vận hành,
Thâu hồi Nhật-nguyệt Ngũ-hành còn đâu.

Tối như mực, ngày đêm năm bữa,
Không trời trăng, nóng lạnh gió tiêu;
Muôn loài bất tỉnh đê mê,
Lọc ra số ít, để dành Nguơn sau.

Dưới thủy quái, trồi lên chực sẵn,
Trên thú rừng, biến hóa thần thông;
Xông ra giết hại loài người,
Cướp hồn, cướp xác, nhiễu nhương khắp cùng.

Trước ngày đó, nhập trong dân chúng,
Bọn bàng-môn tả-đạo tung hoành;
Xuống-lên ợ-ngáp diễn tuồng,
Dụng bùa, dụng ngãi, pháp phù giết nhau.

Các đảng phái cũng ra múa rối,
Xưng rằng đây, mới đủ khôn lanh;
Chống nhau để nắm quyền hành,
Làm cho xáo trộn các ngành quốc gia.

Còn Tôn giáo, thiên về sắc tướng,
Đi quá phần, theo hưởng lợi danh;
Tín đồ chia rẽ phân tranh,
Tranh quyền lãnh đạo, rồi cùng hại nhau.

Thiên tai đến, tháp cùng địa ách,
Khắp hoàn cầu, hoạn nạn đủ bề;
Binh đao khói lửa mịt mù,
Thêm nhiều bịnh lạ, giết người phút giây.

Thời Âm cực, là thời đại loạn,
Cảnh máu đào, chết chóc thê lương;
Đâu đâu nước mắt đau thương,
Gia đình tiêu tán, ruộng vườn hoang vu.

Cơ đã định, chỉ còn có một,
Luật tuần huờn, thay đổi Nguơn kỳ;
Muôn loài phải chịu phân ly,
Để rồi tiến hóa thêm nhiều hơn xưa.

Có tận thế, có Cơ Cứu Thế,
Vì lòng từ các Đấng Thiêng Liêng;
Cùng nhau xuống tận hạ miền,
Ra tay giáo hóa, cứu nguy muôn loài.

Vì nhiệm vụ, lìa ngôi cung thượng,
Đà-La-Hoa Thiên-mạng hiện thân;
Chơn âm ra lịnh ân cần,
Phật Trời Tiên Thánh cứu thêm vài phần.

Các Giáo chủ hội về đầy đủ,
Để xin cùng Phật Mẫu lãnh công;
Trước lo trật tự Giáo môn,
Sau cùng các Đấng lập phương cứu đời.

Tiên Thiên đến, Hậu Thiên tiếp sức,
Các Linh căn có xác dưới Trần;
Đều ra trình diện Mẫu Nghi,
Để lo cứu nước, cứu dân Hội này.

Giờ cứu thế thật là huyền diệu,
Mùi hoa thơm, Mẫu rưới khắp miền;
Tiếng đờn nhạc trỗi triền miên,
Chuông ngân trầm bổng, ru hồn vạn linh.

Phật Tiên Thánh đi trên thây chết,
Dụng pháp mầu chọn lọc xác hồn;
Lựa người, lựa vật được tồn,
Mùi hoa cho ngửi, chuông đờn cho nghe.

Lần lần tỉnh giấc mơ mới biết,
Hiện mình đang sống cõi xa xăm;
Lạ quê, lạ cảnh, lạ người,
Gia đình quyến thuộc, ít còn gặp ai.

Loài cầm thú, cỏ cây sông núi,
Được chuyển qua Cõi Thượng đều xinh;
Thuần Dương, Trái đất biến hình,
Thuần Âm, trọn đủ linh thiêng vô cùng.

Tạo lập lại, trong ngày hắc ám,
Mẫu Đà-Hoa diệu dụng Pháp Huyền;
Di Đà khai sáng ba miền,
Bốn mưới tám nguyện đến nay viên thành.

Cơ phán xét, tới đây chấm dứt,
Đại Phong-Thần đủ bảng kỳ ba;
Long-hoa Đại Hội cộng đồng,
Định xong ngôi vị muôn loài Nguơn tân.

Địa cầu mới, số ghi sáu bảy,
Chất đất thuần, thơm mãi mùi hoa;
Chơn Âm thống lãnh Nguơn đầu,
Thời kỳ định lại ba ngàn sáu trăm.

Hiệp tam giáo, quy còn một Đạo,
Lưu truyền do bốn tám Tổ sư;
Khai nguyên tân Pháp nhiệm mầu,
Lục căn đã diệt, tu mau đắc thành.

Xã hội mới, văn minh cao độ,
Các nghành đều tiến bộ khó lường;
Con người sống cảnh Thần tiên,
Thân hình đẹp đẽ, thông minh vô cùng.

Miệng cười mãi, thân hình thơi thới,
Nhờ mùi hoa, nước miếng ngọt hoài;
Đất linh, học ít, biết nhiều,
Giống dân Nam Hớn duyên ra nối truyền.

Hoa nước Việt, toàn cầu được hưởng,
Hai miền trên, Trung-Thượng được nhờ,
Là hoa Thượng cổ không trồng,
Huyền-năng vô-lượng, hóa sanh muôn loài.

Một tiểu quốc, thay hình đổi dạng,
Thành Đại Bang chủ tể hoàn cầu;
Thật là huyền bí nhiệm mầu,
Hậu Hồng Bàng đó, Nhị Đồ Tạo-công.

Đây là báo trước việc vui việc khổ,
Nước tới chơn, nên lộ vài phần;
Mong cho Đời Đạo ân cần,
Thâm Tâm lo chỉnh để còn ngày sau.

Chớ ỷ lại có người cứu thế,
Rồi tha hồ tự tạo nghiệp sâu;
Cộng trừ dưới điểm được tồn,
Hùm tha, sấu bắt, xác hồn ra tro.

Một kiếp sống, bao nhiêu đau khổ,
Được làm người trên cả các loài;
Phải cho xứng đáng làm Người,
Chớ đâu sanh sống, chết như các loài.

Sao không biết tu-Thân tích-Đức,
Để đến gần Tiên Phật Thánh Thần;
Các Ngài sẽ hiện xuống trần,
Sống bên dân chúng ở thời Hậu lai.

Phật, Tiên, Thánh: người Phàm đắc Đạo,
Cũng là người, đâu phải quỷ ma;
Sao không có tiến kịp đà,
Để cho sa đọa dưới hầm lửa sâu.

Kỳ ba, lọc quan-quân tu-sỹ,
Cùng xét chung tất cả các loài;
Màn đêm phủ đến nơi rồi,
Mạng nào cũng trễ, không xong trong ngày.

Hiểu lý chết, mới tường lý sống,
Nên biết rằng, chết-sống tương quan;
Đó là nhân quả luân hồi,
Sống lành chết nhẹ, tái sanh tiến hoài.

Đời với Đạo tuy cùng tại thế,
Chia hai đường phát triển song hành;
Xác-Hồn phải được quân bình,
Lo trau vật chất, tinh thần muội mê.

Các Tôn giáo phổ truyền Từ-Ái,
Mà được Từ, được Ái mấy người?
Tu theo thế kỷ hai mươi,
Đâu rồi hoàn đó, Đạo đời khó phân.

Tu kinh kệ, âm thinh, sắc tướng,
Tạo cho nhiều chùa thất, tượng hình;
Đạo mầu Vô thượng,Vô thinh,
Tâm là Chơn Phật, xác thân là chùa.

Chạy tìm Đạo, Đông Tây khắp chốn,
Không biết rằng tại nước non nhà;
Phật Trời Tiên Thánh hội về,
Lập Đời, lập Đạo, Pháp mầu độ sinh.

Ham mau đắc, huyền linh lạc nẻo,
Lưới Ma vương giăng bủa đón mồi;
Phỉ nhơn, phân biệt, không rời,
Chín phần lọt rọ, chỉ còn một thôi.

Trong Vũ trụ con người gồm đủ,
Cùng vạn loài, một thứ mà ra;
Tướng hình tuy khác bề ngoài;
Đều do Tứ-đại Âm-Dương tạo thành.

Tu phải biết tìm trong xác thể,
Chủ-Nhơn-Ông lồ lộ bên trong;
Linh thiêng, xinh đẹp nhiệm mầu,
Chớ đâu ông Phật xi-măng ở Chùa.

Cứ tụng đọc sách kinh có chữ,
Không chịu tìm Vô-tự Chơn-Kinh;
Kinh này không chữ không hình,
Tụng trì đắc quả, rõ thông Đất trời.

Học ba mớ bề ngoài chưng diện,
Rồi xúm tôn ông nọ, ông kia;
Đạo mầu không chức tước nào,
Không cần chưng diện, Huyền vi vô cùng.

Tướng ngoài-Phật, Tâm trong: yêu quái,
Dắt chúng sanh về với Ma vương;
Đạo trong thể hiện Tâm-Vương,
Trừ tà, giác-chúng ngoài thường không lo.

Tu cho Hồn được tự do xuất nhập,
Lìa thân nhà, về viếng Quê xưa;

Đó là Cư sỹ xuất gia,
Chớ đâu trốn mẹ, trốn cha vô chùa.

Người chân chánh, không phân Tôn giáo,
Giáo chủ đều
cùng gốc xuống Phàm;
Tuy dùng phương tiện khác nhau,
Tín đồ chia rẽ, Đạo Tâm một mà.

Đâu cần phải Chùa to, Phật lớn,
Ở chòi tranh, Đạo vẫn quang minh;
Tại gia cũng chung quả lành,
Không thâu, không lấy của tiền thập phương.

Học Đạo lý, học trong thể xác,
Khỏi cần tìm lý thuyết mông mênh;
Phật xưa đâu có học kinh,
Làm câm, đui, điếc, Đạo Tâm mau thành.

Khi biết được trong Thân đầy đủ,
Màn Vô-minh tan vỡ lần lần;
Tâm linh sáng tỏ trong ngần,
Càn Khôn vạn vật trong tầm mắt ta.

Không cần học Đạo, Tâm vẫn biết,
Đủ phép mầu, diệu dụng vô biên;
Công-viên, Quả-mãn, Siêu-phàm,
Giúp cơ cứu thế cuối ngày Hạ Nguơn.

Đạo không nói, vô hình im lặng,
Đức không khoe, cũng chẳng cần khen;
Hạnh-lành đầy đủ âm thầm,
Hóa-sanh dưỡng-dục, muôn loài vạn linh.

Đã nhiều vị xuống Cơ, ra Sấm,
Khuyên Dương-trần lo sửa Thân-Tâm;
Cũng cho biết việc xa gần,
Bị người chế nhạo nói khùng, nói điên.

Đây có nói, e người không thích,
Nhưng lộ cho, biết chuyện hãi hùng;
Của ngày Tận diệt cuối cùng,
Để đời nghĩ lại: ai khùng, ai điên.

Khuyên bá tánh, chăm lo ruộng rẫy,
Sắm lưới chài, dò đẫy, đăng nò;
Tới mùa thu lợi đầy kho,
Gia đình sung túc, quốc gia phú cường.

Đất sắp chết, như người hấp hối,
Ngũ tạng lìa, Tứ đại đảo điên;
Năm châu, bốn biển ngả nghiêng,
Muôn loài rối loạn, đâu nguyên sắc màu.

Việc sẽ đến trong đời hiện tại,
Chớ đâu xa trăm vạn năm sau;
Cơ Trời như thể mộng mơ,
Ngủ đêm mơ giấc, ban mai đổi đời.

Qua năm tý, nhiều lời lắm chuyện,
Còn bây giờ, ít chuyện ít lời;
Nhắn cùng các Điển Linh – căn,
Thuyền gần rời bến, ngủ quên trễ đò.

Nghe Phụng gáy,Tây Kỳ vang dội,
Bạch Hổ gầm, rung động rừng sâu;
Là ngày vinh hiển bắt đầu,
Việt Nam phục nghiệp, Tiên Rồng rạng danh.

Tháng 8 Canh Tuất – 1970
ĐẠI TIÊN HỒNG QUANG

Bài viết khác:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *